39.đường B2.KDC Thiên Lộc.Phường Phú Thứ. Quận Cái Răng.Cần Thơ

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại
Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Tin tức

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

05-09-2018 10:22:11 AM - 158

Đờn ca tài tử Nam Bộ – di sản văn hóa phi vật thể nhân loại

Được biết đến là loại hình nghệ thuật gắn liền với đời sống tinh thần người dân Nam Bộ. “Đờn ca tài tử” được ví như một tiếng lòng đầy thâm thúy của con người trong cuộc sống bình dị. Đặc biệt, Đờn ca tài tử Nam Bộ là sợi dây gắn kết tình đoàn kết, tình yêu thương, tình chia sẻ giữa con người với con người trong cuộc sống.

Xem thêm:

Nguồn gốc hình thành Đờn ca tài tử Nam Bộ

Dựa theo những ghi chép về các loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Nghệ thuật trình diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ được hình thành trên cơ sở nhạc Lễ, nhạc Cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam. Tuy nhiên, để có cái nhìn tổng quan và cụ thể hơn về Đờn ca tài tử Nam Bộ thì phải nhìn lại những loại hình nghệ thuật uyên thâm, bác học đã hình thành trước thế kỷ XIX.

Vào đầu thế kỷ XIX, ở Nam Bộ xuất hiện hai hình thức nghệ thuật diễn xướng là Tuồng (Hát Bộ = Hát Bội) và Nhạc Lễ. Cụ thể, Tuồng là sân khấu ca kịch chuyên nghiệp cao nhất được hình thành từ ca vũ nhạc và diễn xướng dân gian. Tuồng lấy nhạc cụ là trống và kèn để làm nồng cốt trong trình diễn. Còn “nhạc Lễ” là ban nhạc phục vụ hành lễ tính ngưỡng, lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nồng cốt.

Với sự có mặt của hai hình thức nghệ thuật này, cuộc sống tinh thần của người dân Nam Bộ ngày càng phong phú hơn. Tuy nhiên, công việc đồng án trong những lúc nông nhàn đòi hỏi họ phải có thêm một thứ gì đó để thêm phần đa dạng. Chính vì vậy mà những người yêu nhạc cùng với những nhạc công trong “Tuồng” và “Nhạc Lễ” đã sáng tạo ra chiếc “đờn cây” – một loại đàn khi hòa nhạc không cần bộ gõ. Từ đây, một phong trào “đờn cây” đã lan truyền đi khắp nơi vùng Nam Bộ.

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều quan viên phụ trách các ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Những quan viên của các ban nhạc này đều là những người thâm uyên biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế. Sự kết hợp này đã tạo ra một loại hình nghệ thuật mới gọi là “Đờn ca”, tức là “người nghệ sĩ vừa đàn vừa ca”. Khi loại hình nghệ thuật này ra đời, nó được nhân dân đón nhận nồng nhiệt và trong thời gian ngắn khắp nơi hai miền Đông, Tây Nam Bộ đã xuất hiện hàng loạt lớp dạy nhạc “Đờn ca”.  

Mặc dù loại hình nghệ thuật mới được hình thành để đáp ứng nhu cầu tinh thần trong cuộc sống. Tuy nhiên, để có cái tên nghệ thuật Đơn ca tài tử Nam Bộ thì phải nói đến công lao của những vị như nhạc sư danh tiếng thời bấy giờ như Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi), sinh năm 1880 quê ở Long An; Trần Quang Diệm (1853 – 1927), quê ở Mỹ Tho, là nội tổ của Giáo Sư Trần Văn Khê; Lê Bình An (1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (Hậu Tổ Nhạc Khị) ở Bạc Liêu; Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long …

Những vị nhạc sư này đã tập hợp và thống nhất được các ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông – Tây Nam Bộ Đây. Và cũng chính các ông là những người đã cất công nghiên cứu, chỉnh sửa và sáng tác ra một khoa tàng nghệ thuật “Đờn ca tài tử Nam Bộ” lưu truyền đến hôm nay.

Quá trình hình thành các bài Đờn ca tài tử Nam Bộ

Sau khi hình thành, tập hợp thống nhất các ban nhạc, nhóm đờn “Tài tử” trên hai vùng Đông và Tây Nam Bộ. Các nhạc sư đã sáng tạo ra hàng trăm bài hát để trình diễn và phục vụ trong đời sống. Tuy nhiên, để kết cấu lại thì các nhà nghề truyền thống đã rút ngắn và gộp lại 20 bản nhạc tiêu biểu.

Việc thống nhất, kết hợp 20 bản nhạc được các nhạc sư gọi là 20 bản tổ của “Đờn ca tài tử Nam Bộ”. Hai mươi bản tổ này sẽ đại diện cho 4 làn hơi là Bắc, Hạ, Nam và Oán. Bốn làn hơi này được sử dụng trong 2 thang âm chính là thang âm Bắc (Bắc và Hạ) và thang âm Nam (Nam và Oán). Cụ thể:

  • Trong làn hơi Bắc (thang âm bắc) có các bài: Lưu Thủy, Phú lục, Bình Bán, Cổ bản, Xuân tình, Tây Thi.
  • Trong làn hơi Hạ (Thang âm Bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc,
  • Trong làn hơi Nam (thang âm nam) có các bài: Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung
  • Trong làn hơi Oán (thang âm nam) có các bài: Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam, Phụng cầu.

Mặc dù được quy định rõ ràng về làn hơi và thang âm. Tuy nhiên. khi chơi 20 bản tổ hoặc những bản đờn tài tử khác người chơi được phép ngẫu hứng sáng tạo. Điều này giúp người chơi dễ dàng lấy cảm hứng sáng tác khi trình diễn những nét giai điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi lòng bản. Đây chính là một điều mở để sau hình thành nhiều bản tài tử phù hợp với thời thế sau nay.

Đờn ca tài tử nam bộ di sản văn hóa phi vật thể

Đờn ca tài tử Nam Bộ

Quy định khi chơi Đờn ca tài tử Nam Bộ

Cũng như các loại hình nghệ thuật truyền thống khác như Ca Huế, Chèo, Tuồng, hát Bội v.v. Khi chơi và trình diễn nghệ thuật “Đờn ca tài tử Nam” bắt buộc phải theo một quy định nhất định.

Đầu tiên, để trở thành một tài tử “Đờn ca” thì người chơi phải theo học các nhạc sư một thời gian rất dài. Tuy nhiên, tùy vào năng khiếu và tố chất của mỗi người mà thời gian sẽ được rút ngắn lại. Thế nhưng thường để đào tạo một một người “Tài tử” thành thạo thì phải mất hai đến ba năm.

Trong quá trình theo học các nhà sư, người chơi sẽ được học từ những điều cơ bản cho đến phức tạp. Nhưng quan trọng hơn cả là việc luyện chất giọng, thần thái biểu diễn và các kỹ thuật chơi đàn. Trong đó, các kỹ thuật chơi đàn sẽ được học kỹ lưỡng trong các phần như rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây. Cùng với những cách này còn có kỹ thuật quan trọng của cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo. Đặc biệt là các cách chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài nhạc “Tài tử”.

Song song cùng với những kỹ thuật sử dụng của các loại nhạc cụ trong nghệ thuật “đờn ca”. Tất cả các nghệ sĩ chơi nhạc “Tài tử” phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng bản nhạc “Tài tử”. Đây chính là cốt lõi quan trọng để người chơi dễ thoát khỏi sự ràng buộc của lòng bản để ngẩu hứng trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà vẫn bảo đảm sự toàn vẹn bản hòa tấu nhạc “Tài tử”.

Sau quá trình được các nhà sư đào tạo để trở thành một ngườ tài tử chơi đờn ca. Người chơi “đờn ca” sẽ được công chúng công nhận là một “Tài tử” thực sự. Chữ “Tài tử” này có nghĩa là chỉ một người tài chơi nhạc “đờn ca” được đào tạo và huấn luyện kỹ càng.

Những loại nhạc cụ được sử dụng trong nghệ thuật trình diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ

Khác với những loại hình nghệ thuật như Ca Huế, nhã nhạc cung đình Huế hay nghệ thuật Chèo, Tuồng v.v. Những loại nhạc cụ trong nghệ thuật trình diễn Đờn ca tài tử Nam Bộ được sử dụng chỉ từ 7 đến 8 nhạc cụ. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh mà có lúc buổi hòa nhạc sẽ hội tụ đầy đủ các nhạc cụ, hoặc có lúc, 3, 4 hay 5 nhạc cụ vẫn có thể chơi được. Có được điều này là do khi sáng tạo các nhạc sư đã cải biên và cắt giảm để tạo ra tính đơn giản phù hợp với nhu cầu của cuộc sống.

Những loại nhạc cụ được sử dụng để hòa tấu trong bài tất cả các bài nhạc “Tài tử” là đờn kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu, ống tiêu, sáo và song loan. Về sau, khoảng nữa cuối thế kỷ XX (năm 1930) do ảnh hưởng và tiếp biến văn hóa phương Tây, dàn hòa nhạc “Tài tử” có thêm hai nhạc cụ nữa là guitar và violon. Tuy nhiên, với nhạc cụ guitar, để tương thích với nhạc đàn tài tử người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitar lõm xuống, gọi là guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.

Chính vì Đờn ca tài tử Nam Bộ là loại hình nghệ thuật mới được hình thành trên nhiều cơ sở của các loại hình nghệ thuật khác để sử dụng vào những lúc thảnh thơi. Nên khi hòa tấu, dàn nhạc thường cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách lãng đãng, dựa trên khung bài bản cố định gọi là “lòng bản”.

Đây gọi là cách chơi nhạc theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình. Ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Bằng điều này, dàn nhạc có thể chơi theo cách mở để mọ người cùng tham gia mà không có không gian nào chia cách.

Đờn ca tài tử Nam Bộ

Đờn ca tài tử - một loại hình chơi nhạc theo nhóm

Đờn ca tài tử Nam Bộ là nền tảng hình thành nên “Cải Lương”

Tuy là loại hình nghệ thuật mới được hình thành và ra đời trong những năm bị thực dân Pháp xâm lược, đàn áp. Thế nhưng, loại hình nghệ thuật mới này đã phát triển một cách mạnh mẽ mà không hiểu lí do vì sao. Từ lối trình diễn hòa tấu, hát ca theo nhóm, gia đình, và câu lạc bộ, “Đờn ca tài tử Nam Bộ” đã được các ca sĩ trình diễn dựa vào đó để thay đổi lối ngồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ”. Đây là một bước tiến quan trọng để nghệ thuật sân khấu “Cải lương” hình thành.

Mở đầu cho việc hình thành lên sân khấu “Cải lương”, đầu tiên phải nói đến dấ ấn của ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều). Trong ban nhạc tài tử này nổi bậc với tên tuổi một người là cô Ba Đắc – người ca sĩ diễn ba vai Bùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợ đấu xảo ở Paris vào năm 1910.

Cùng với ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều, có rất nhiều ban nhạc tài tử khác thời đó cũng trình diễn ca ra bộ như ban nhạc của Tống Hữu Định (Thầy Phó Mười Hai), gánh xiếc André Thận (Lê Văn Thận).

Với việc phát triển từ nhạc “Tài tử” đến phong trào “’ca ra bộ” đã tạo nên một phong trào mới. Đặc biệt, phong trào này đã tạo một dấu ấn sau 7 năm khi vở diễn Lục Vân Tiên của soạn giả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc (năm 1917). Vở diễn này được nhiều người coi là vở “Cải lương” đầu tiên, đánh dấu thời kỳ phôi phai của loại hình sân khấu thứ ba sau Tuồng và Chèo.

Mặc dù đã bước đầu hình thành và đánh dấu thời kỳ phôi phai có nghệ thuật sân khấu “Cải lương”. Tuy nhiên, để chính thức công nhận là loại hình sân khấu thứ ba thì chưa thể, mặc dù một năm sau đó (đêm 16 tháng 11 năm 1918) tại Nhà hát Tây Sài Gòn có diễn tuồng Hát bội cải cách tên là ‘Pháp - Việt nhứt gia” (tức Gia Long tẩu quốc) của Đặng Thúc Liêng và Nguyễn Văn Kiểu. Đây là vở Tuồng thể hiện gần như tể hiện đẩy đủ các yếu tố của một nghệ thuật sân khấu mới.

Mãi cho đến gia đoạn cuối năm 1920 – 1921, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho lập gánh hát, xây rạp, lập hãng dĩa hát, đưa gánh hát lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn ... lúc này “Cải lương” mới thành hình thật sự. Sự hình thành này là do các ban nhạc, nhóm nhạc “Tài tử” đã không ngừng sáng tạo trong lúc biểu diễn trước công chúng.

“Vọng cổ” bài nhạc mang tính sự kiện cho sân khấu “Cải lương”

Nói đến sân khấu “Cải lương” – sân khấu truyền thống thứ ba của Việt Nam thì không thể không nhắc đến bản “Vọng cổ”; một bản nhạc có tiền thân là bản “Dạ cổ hoài lang” do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1919. Một bản nhạc được xem là tâm hồn của tất cả bản nhạc “Cải lương”.

Ban đầu, khi sáng tác bài “Dạ cổ Hoài Lang”, cố nhạc sĩ Cao Văn chỉ sáng tác ở nhịp 4. Thế nhưng, chỉ một thời gian, các nghệ sỉ ở Bạc Liêu như Lư Hòa Nghĩa, Nghệ sỉ Bảy cao, Nhạc sỉ Trần Tấn Hưng… đã dần lột xác từ nhịp đôi đến nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32 nhịp 64. Bằng việc lột xác này, khi các danh ca, danh cầm xác định điểm thăng hoa của bài “vọng cổ” ở nhịp 32 chỉ dùng 6 câu là có thể viết ra một bài mới.

Không chỉ là tâm hồn của những bản nhạc tài tử hay những bản nhạc “Cải lương” . Bản “Vọng cổ” còn là một dấu ấn đặc quan trọng để các tác giả lồng ghép bản vọng cổ vào tân nhạc của những năm 70 thế kỷ XX. Sự lồng ghép này đã tạo nên mối lương duyên giửa Tân và cổ nhạc mà ta thường gọi là “Tân cổ giao duyên”.

Khi “Tân cô giao duyên” ra đời, nhiều người nghe và thương thức cảm thấy rất cảm hứng. Nhưng để hiểu về sự giao hòa này thì chỉ có người sáng tác, người chơi, người tạo ra nó mới hiểu. Đó là một quá trình hết hợp, lòng ghép bản “vọng cổ” từ 6 câu nhịp 32 tác giả rút lại còn 4 câu 1 – 2 và 5 – 6. Trong 4 câu này tác giả sẽ kèm theo một đoạn nhạc có thể đứng trước hoặc đứng sau. Tuy nhiên, cũng có bài tác giả đưa 1 đoạn nhạc vào hẳn 1 câu vọng cổ, thay vì mỗi câu vọng cổ có 32 nhịp thì người ta giành 16 nhịp để ca nhạc và 16 nhịp ca vọng cổ.

Về sau, khi phong trào chơi “Đờn ca tài tử” lan rộng, quần chúng có nhu cầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạc tài tử” để đi trình diễn các nơi. “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạc tài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy. Đó là lối biểu diễn nhạc “Tài tử”” trên bục diễn trước khán giả.

Song song với việc thành lập các ban nhạc “Tài tử”, sân khấu “Cải lương” ra đời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh. Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn khổ luyện, sáng tạo và làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trong từng đêm diễn. Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thành những người điêu luyện trong trình diễn để ngày làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.

Công nhận Đờn ca tài tử Nam Bộ

Sau hơn 100 năm hình thành và phát triển dựa trên nhiều cơ sở của các loài hình nghệ thuật đặc sắc của hai miềnTrung, Bắc. Đờn ca tài tử Nam Bộ đến nay đã trở thành một loại hình nghệ thuật không thể thiếu trong đời sống nhân dân Nam Bộ. Một loại hình nghệ thuật đại diện cho miền Nam cùng với Ca Huế miền Trung và Ca Trù của miền Bắc.

Để cộng nhận, vinh danh, bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật đặc sắc này. Năm 2010, với sự tham gia và đóng góp của nhiều cộng đồng, Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được kiểm kê và đưa vào di sản Viện Âm nhạc Việt. Đến năm 2012 thì Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Một năm sau đó, vào lúc 15 giờ 47 phút (theo giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013. Phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã khẳng định: Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí để trở thành di sản văn hóa phi vạt thể thế giới.

Từ đây, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam chính sách ghi vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể là đại diện của nhân loại.

Sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.  Tối ngày 11 tháng 2 năm 2014 tại hội trường Thống Nhất, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trọng thể Lễ đón nhận bằng của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) vinh danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là Di sản văn hóa phi vật thể. Đại diện trao bằng là bà Katherine Muller Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội.

Các tin khác

PHONE
SMS
MAP